Dòng tiền là gì? Sự khác nhau giữa thu nhập và tiền mặt

Cashflow 1

 

Nếu bạn tin vào câu ngạn ngữ cổ “phải mất tiền mới làm ra tiền” thì hẳn bạn sẽ cầm tóm được thực chất của dòng tiền và ý nghĩa của nó với một doanh nghiệp. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cho thấy cơ chế doanh nghiệp sử dụng tiền mặt (dòng tiền ra) và nguồn gốc tiền mặt (dòng tiền vào).

Chúng ta biết rằng khả năng sinh lời của công ty thường được biểu hiện bởi thu nhập ròng- đây là một chỉ số đánh giá đầu tư cần thiết. Khi nhận định hiệu quả hoạt động tổng thể của doanh nghiệp, nhiều người nghĩ ngay đến thu nhập ròng. Tuy nhiên, dù rằng kế toán dồn tích cung ứng cơ sở cho việc khớp doanh thu với chi phí, hệ thống này không thực sự phản ánh đáng giá công ty đã thu được từ lợi nhuận trong hệ thống này. điều này tạo nên sự khác nhau chính yếu. Trong bài viết này, chúng ta cùng khám phá xem một cái báo cáo lưu chuyển tiền tệ sẽ phản ánh các thông tin hữu dụng gì về công ty cũng như cách để tìm thấy các thông tin này.

SỰ khác nhau GIỮA THU NHẬP VÀ TIỀN MẶT

Trong một bài báo vào tháng Tám năm 1995 của tờ Individual Investor, Jonathan Moreland đưa ra bản nhận định rất cô đọng về sự không giống nhau giữa thu nhập và tiền mặt. Ông nói rằng “tính thanh khoản của công ty cũng cần thiết như năng lực sinh lời của nó” bởi chỉ số này cho biết liệu công ty có đủ tiền để làm xong bổn phận nợ của mình hay không. Và xét cho cùng, công ty sẽ bị phá sản nếu không thể trả được các hóa đơn, chứ không phải vì không có ích nhuận. Ngày nay, đây là điều hiển nhiên. Vậy mà nhiều nhà đầu tư vẫn thường bỏ qua nó. Bằng cách nào ư? Bằng cách chỉ nhìn đến báo cáo kết quả hoạt động buôn bán chứ không phải là báo cáo lưu chuyển tiền tệ.”

BÁO CÁO LƯU CHUYỂN TIỀN TỆ

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ có ba phần riêng biệt, mỗi phần là một hoạt động đặc thù – hoạt động kinh doanh, đầu tư và tài chính. Đối với nhà đầu tư ít bài học, sẽ dễ dàng hơn để hiểu được ý nghĩa của một báo cáo lưu chuyển tiền tệ khi sử dụng những chú thích tài khoản, tức là miêu tả và tiêu chuẩn hóa các thuật ngữ và những định dạng thuyết trình được sử dụng bởi tất cả những công ty:

Dòng tiền từ hoạt động buôn bán: Đây là nguồn căn bản sinh ra tiền mặt cho công ty và cũng là lượng tiền mặt mà bản thân doanh nghiệp kiếm được chứ không phải những khoản vốn đến từ hoạt động đầu tư và tài chính bên ngoài. Trong phần này của báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thu nhập ròng (trong báo cáo thành quả hoạt động kinh doanh) sẽ được điều chỉnh theo các khoản phí không dùng tiền mặt và sự đổi mới của các tài khoản vốn lưu động – tài sản và nợ từ hoạt động trong bảng cân đối kế toán lúc hiện tại.

Dòng tiền từ hoạt động đầu tưphần nhiều những giao dịch đầu tư đều làm ra dòng tiền âm (dòng tiền đi ra), chẳng hạn như chi phí vốn cho tài sản, máy móc thiết bị, mua lại công ty và mua chứng khoán đầu tư. Còn ngược lại dòng tiền vào đến từ việc bán tài sản, bán công ty và bán chứng khoán đầu tư. Đối với các nhà đầu tư, những mục cần thiết nhất trong phần này là chi phí vốn (sẽ được giải nghĩa sau). Ta thường giả định rằng chi phí này là một điều cần có cơ bản để đảm bảo sự duy trì và bửa sung cho tài sản vật chất của doanh nghiệp nhằm trợ giúp hoạt động kinh doanh hiệu quả và tăng năng lực cạnh tranh .

Dòng tiền từ hoạt động tài chính: Phần này đề cập đến nợ và những giao dịch vốn chủ chiếm hữucác doanh nghiệp phải liên tục vay và trả nợ. Việc phát hành chứng khoán ít diễn ra hơn. Ở đây, một lần nữa, các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư vì mục tiêu thu nhập thì thứ quan trong nhất với họ là cổ tức được trả bằng tiền mặt . Và những công ty thường phải cho cổ đông cổ tức bằng tiền mặt chứ không phải lợi nhuận

MỘT PHƯƠNG PHÁP giản đơn ĐỂ PHÂN TÍCH BÁO CÁO LƯU CHUYỂN TIỀN TỆ

Dòng tiền của công ty có thể được định nghĩa là con số xuất hiện trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ dưới dạng đáng giá thực của tiền mặt từ hoạt động giao thương. Tuy nhiên, không có định nghĩa chung nào cho cái gọi là dòng tiền của công ty. Ví dụ, nhiều chuyên gia tài chính coi dòng tiền của công ty là tổng thu nhập ròng và khấu hao (chi phí không dùng tiền mặt trong báo cáo thành quả hoạt động kinh doanh). dù rằng thường sát với con số dòng tiền thuần từ hoạt động buôn bán nhưng cách tính tắt này có thể dẫn đến nhiều sai sót vì vậy các nhà đầu tư nên khăng khít với con số dòng tiền thuần từ hoạt động buôn bán.

Phân tích dòng tiền thường sử dụng một vài tỷ số khác biệt và những tỷ số sau đây là xuất phát điểm thực sự phù hợp để nhà đầu tư đo lường chất lượng đầu tư của dòng tiền của một công ty:

Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh/Doanh thu thuần: tỷ số này là tỷ trọng phần trăm của dòng tiền thuần từ hoạt động giao thương của một công ty so với doanh số bán hàng thuần, hoặc doanh thu (từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh) của nó. Nó cho chúng ta biết ta thu được bao nhiêu đồng trên một đồng doanh số bán hàng.

Không có một tỷ lệ xác suất đúng đắn nào để tham chiếu, nhưng , tỉ lệ này càng cao càng tốt. Cũng cần xem xét rằng tỷ số này trong những doanh nghiệp sẽ khác với tỷ số trung bình của ngành. Nhà đầu tư nên theo dõi diễn biến lịch sử của chỉ số này để phát hiện ra các sai khác đáng kể so với dòng tiền trung bình của công ty/doanh thu cũng như so sánh chỉ số này của công ty với những doanh nghiệp trong ngành. Ngoài ra, cần theo dõi xem khi doanh thu tăng thì dòng tiền tăng như thế nào; và điều cần thiết là chúng đổi mới với tốc độ ngang nhau theo thời gian hay không.

Lịch sử của dòng tiền tự do: Dòng tiền tự do thường được định nghĩa là dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh trừ đi chi phí vốn. Việc tạo ra dòng tiền tự do bất biến và nhất quán là một đặc tính đầu tư hữu dụng, vì vậy hãy tìm một công ty có dòng tiền tự do ổn định và tăng trưởng.

Nếu muốn cẩn thận hơn, bạn thực sự có thể đi sâu vào những thành phần của dòng tiền tự do. Ví dụ, ngoài chi phí vốn, bạn cũng có thể trừ cả cổ tức từ dòng tiền hoạt động thuần để có được góc nhìn tổng quát hơn về dòng tiền tự do. Sau đó thực sự có thể so sánh con số này với doanh số bán hàng như đã trình bày ở trên.

Trên thưc tế, nếu doanh nghiệp có lịch sử thanh toán cổ tức, thì công ty không thể dễ dàng hoãn hoặc bỏ chúng mà không gây ra thiệt hại cho cổ đông. Thậm chí khi việc cắt giảm cổ tức ít gây thiệt hại, nó vẫn là vấn đề đối với nhiều cổ đông. Nhìn chung, thị trường coi việc chi trả cổ tức và chi phí vốn là cùng một phạm trù, đều là những chi tiêu tiền mặt cần thiết.

Nhưng ở đây điều quan trọng là tìm được một mức bình ổnđiều này không chỉ cho thấy năng lực công ty làm ra dòng tiền mà nó cũng báo hiệu rằng công ty có đủ năng lực để tiếp tục đầu tư những hoạt động của mình hay không.

Tỷ số thanh toán dòng tiền tự do toàn diện: Bạn có thể tính tỷ số thanh toán dòng tiền tự do tổng quát bằng cách chia dòng tiền tự do tổng quát cho tiền thuần từ hoạt động kinh doanh để ra được tỷ lệ xác suấttỷ lệ này càng cao càng tốt.

Dòng tiền tự do là một tiêu chí nhận định cần thiết đối với các nhà đầu tư. Nó thể hiện tất cả những ưu điểm của dòng tiền mặt do chính hoạt động của doanh nghiệp tạo ra cũng như việc sử dụng dòng tiền này cho chi phí vốn. Nếu doanh nghiệp có thể đáp ứng được thách thức này, nó sẽ có không cần phải vay vốn quá mức để mở mênh mông buôn bán, trả cổ tức và chống trọi với những lúc khó khăn.

Thuật ngữ “cash cow” được áp dụng để chỉ những công ty có dư dả dòng tiền tự do không phải là một thuật ngữ tao nhã, nhưng nó chắc chắn là một trong những đặc tính đầu tư hấp dẫn mà bạn cần chú ý.

KẾT LUẬN

Một khi hiểu được tầm quan trọng của quá trình tạo ra và báo cáo dòng tiền, bạn thực sự có thể sử dụng những chỉ số đơn giản này để thực hiện phân tích cho chính danh mục đầu tư riêng mình. Như Moreland đã nói ở trên, điều cần thiết là tránh “chỉ nhìn vào báo cáo kết quả hoạt động buôn bán mà không chú ý báo cáo lưu chuyển tiền tệ.” Cách tiếp cận này sẽ giúp tìm ra cơ chế mà doanh nghiệp chi trả nợ cũng như tạo ra tiền mặt cho các nhà đầu tư.

Nguồn: Saga.vn