Môi trường marketing là gì? Môi trường marketing vi mô, vĩ mô

Ytvm

Doanh nghiệp tham gia vào bất kỳ lĩnh vực giao thương đều phụ thuộc vào một môi trường nào đó. Môi trường ấy mang lại cả điều kiện thuận tiện , thách thức, nguy cơ tiềm ẩn cho công ty. Trong tiếp thị giới thiệuđo đạt môi trườngMarketing của doanh nghiệp là bước quan trọng giúp doanh nghiệp quyết định các vấn đề ảnh hưởng đến công việc kinh doanh.

Môi trường Marketing là gì?:

Môi trường Marketing là tổng hợp các yếu tố nội bộ và ngoại vi doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến hoạt động truyền thông của công ty.

Dễ thấy rằng, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng hoạt động trong một không gian kinh doanh nhất định  chịu sự chi phối, tác động mạnh của môi trường đấy đến những hoạt động kinh doanh của công ty. Những biến động tại môi trường tác động sâu sắc đến công tygồm có cả những tác động tốt , ảnh hưởng xấucác biến động tại môi trường thực sự có thể diễn ra từ từ, nhưng cũng có thể xảy ra đột ngột.

Những nhân tố môi trường thường mang lại cho công ty các nguy cơ đe doạ, nhưng đồng thời cũng đem đến những thời cơ giao thương cho doanh nghiệp. Nếu công ty có đầy đủ những thông tin đó, họ sẽ có kế hoạchcác biện pháp chủ động vượt qua các rủi ro  nắm thu thập các cơ hội thuận lợi. Do vậy doanh nghiệp cần hiểu rõ những yếu tố của môi trường. Ta thực sự có thể phân chia thành 2 loại môi trường: môi trường vĩ mô  môi trường vi mô

Đo đạt môi trường marketing là gì?

Môi trường Marketing là một tập hợp những lực lượng thực sự có thể hoặc không thể khống chế mà những công ty phải lưu ý đến khi tạo dựng những bộ máy marketing – mix của mình. Những lực lượng đó công việc ở bên trong hoặc nằm ngoài doanh nghiệp  có tác động đến khả năng điều hành của phòng ban marketing cùng với sự thiết lập , duy trì mối quan hệ hợp tác tốt đẹp với những đối tượng mua hàng mục tiêu.

Môi trường marketing vi mô

Môi trường vi mô gồm có các yếu tố có quan hệ trực tiếp đến công việc truyền thông của doanh nghiệp , tác động đến năng lực phục vụ đối tượng mua hàngđó là các nhà cung cấp ứng, những người môi giới, những khách hàngnhững đối thủ cạnh tranh, công chúng trực tiếp.

Khác với môi trường vĩ môcông ty có thể tác động đến môi trường vi mô thông qua những chính sách, chiến lược giao thương của mình.

Các yếu tố thuộc môi trường Marketing vi mô

1. Các thành tố  lực lượng bên trong doanh nghiệp

Hoạt động truyền thông chẳng phải là một hoạt động riêng rẽ tại công ty. Trái lại nó bị chi phối bởi các lực lượng, những yếu tố khác tại doanh nghiệp. Do vậy:

Marketing là một phòng ban trong kế hoạch doanh nghiệp. Do vậy công việc Marketing truyền thông chịu sự chi phối, điều hành trực tiếp của Ban giám đốc.

• Công dụng truyền thông phải kết nối khắn khít với những công dụng khác tại công ty như Tài chính, Kế toán, nhân lực, R&D, Sản xuất, Vật tư, chiến lược. Do vậy, người có nhiệm vụ marketing phải biết chia sẻ , nhận được sự tán thành, hỗ trợ của các bộ phận liên quan. Ví dụ, nếu nhà quản trị marketing dự định tung ra thương trường một sản phẩm mới, anh ta phải thảo luận với những chức năng khác coi có đủ nguồn tài chính, công nghệ, thiết bị, nhân lực ¼ để thực hiện dự định đó không? ngoài ra, còn có nhiều cản trở do mâu thuẫn giữa các nhà quản trị những chức năng không giống nhau trong doanh nghiệpnhà quản trị sản xuất thì mong muốn duy trì lâu dài những sản phẩm tiêu chuẩn hoá. Nhà quản trị truyền thông thì thấy cần thiết phải đa dạng hoá sản phẩm cho các đoạn thị trường khác nhau.

Chính thì không mong muốn chi phí nhiều cho chiến dịch quảng cáo

Để thực hiện thành công chiến lược truyền thôngluôn phải xây dựng được sự đảm bảo thực hiện chương trình truyền thông đối với mọi thành viên trong doanh nghiệp. Đấy chính là công tác truyền thông bên trong

2. Các nhà cung ứng

Những nhà cung ứng mang đến các nhân tố đầu vào cho công ty hoạt động. Đó là tài chính, điện, nước, vật tư, máy móc thiết bị. Nếu quá trình Mang đến các đầu vào này bị trục trặc thì ảnh hưởng lớn đến quá trình sản xuất của công ty. Đặc biệt trong điều kiện cạnh tranhĐặc biệtcái giá, dịch vụ của nhà sản xuất có tác động lớn đến công việc của doanh nghiệp. Do vậy doanh nghiệp phải hiểu biết, quan tâm , tạo ra sự kết nối bền vững với các nhà cung cấp.

Đối với lĩnh vực chế biến thực phẩmđạt được nguồn nguyên liệu ổn định là nhân tố tiên quyết cho sự thành công của công ty. Để đảm bảo các nguồn phân phối nguyên liệu ổn định, nhiều công ty đã có những chính sách tạo ra mối quan hệ ổn định, hỗ trợ cho những nhà sản xuất. Doanh nghiệp mía đường Lam Sơn tỉnh Thanh Hoá đã tạo ra được vùng nguyên liệu mía ổn định thông qua các chính sách như hỗ trợ nông dân vốn, giống, phân bón, kỹ thuật, , cao thêm nữa là cho phép nông dân mua cổ phẩn của nhà máy khi nhà máy tiến hành cổ phần hoá. Như vậy, nông dân thành ra người đồng sở hữu nhà máy, quyền lợi của họ gắn liền với sự phát triển của nhà máy. Chính họ có trách nhiệm  có động cơ mãnh liệt phải đảm bảo đủ nguyên liệu cho nhà máy. Một doanh nghiệp xuất khẩu nấm đã công ty huấn luyện kỹ thuật trồng, phân phối giống , chế biến nấm cho nông dân không mất phítổ chức thu mua nguyên liệu với giá ổn định để nông dân yên tâm sản xuất. Một số công ty nước ngoài trong ngành chế biến thực phẩm đã cung cấp giống, kỹ thuật, thức ăn chăn nuôi cho nông dân , bao tiêu sản phẩm với giá ổn định. Để cho nông dân sản xuất nguyên liệu gắn bó với sự thành công của doanh nghiệp, một số doanh nghiệp chế biến đã cho nông dân mua cổ phần của doanh nghiệp.

3.3.3. Những trung gian marketing

Ai là những trung gian Marketing? Vai trò của họ như thế nào?

Trung gian marketing là những công ty giao thương độc lập tham gia hỗ trợ cho công ty tại các khâu không giống nhau trong chuỗi giá trị của công ty. Các trung gian này cực kì quan trọngnhất là trong môi trường cạnh tranh quốc tế, những doanh nghiệp có xu hướng thuê ngoài (Outsoursing) một số khâu khác nhau trong chuỗi đánh giá của công ty. Điều này sẽ giúp cho công ty tiết kiệm khoản chi  tăng cao thành quả kinh doanh. Do vậy, doanh nghiệp phải biết chọn lựa các trung gian phù hợp , tạo ra sự kết nối lâu dài với các trung gian.

Tiếp theo là những loại trung gian:

• Các đại lý bán buôn, bán lẻ, các đại lý cung cấp độc quyền, những doanh nghiệp vận chuyển, kho vận.

• Họ tạo điều kiện cho công ty trong khâu phân phối hàng hoá, dịch vụ đến tay người tiêu dùng cuối cùng nhanh chóng , hiệu quả.

• Các công ty tư vấn, nghiên cứu thị trườngcác công ty giới thiệunhững đài, báo chí, phát thanh, truyền hình.

• Họ tạo điều kiện cho công ty tuyên truyền, quảng cáo sản phẩm, uy tín của công ty.

Do vậy việc chọn lựa cộng tác thích hợp là rất quan trọng.

• Những tổ chức tài chính trung gian như ngân hàngcông ty tài chính, công ty bảo hiểm, doanh nghiệp kiểm toán.

• Họ hỗ trợ tài chính, giúp cho công ty dự phòng rủi ro.

Có thể có các doanh nghiệp lớn tự công ty thu thập quá trình cung cấp, tức là thực hiện kênh phân phối trực tiếp mà không qua trung gian, hoặc tự đơn vị nghiên cứu thị trường..tuy vậy, cạnh tranh buộc công ty phải nghĩ tới việc chuyên môn hoá mọi công việc của mình. Do vậy các trung gian marketing có vai trò vô cùng quan trọng. Họ giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được khoản chi, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, khai triển khẩn trương hoạt động giao thương, mở rộng thị trường. Với mục đích đấy, Tập đoàn BCVT Việt Nam cũng đã chuyển dần các bưu cục 3 không hiệu quả thành những đại lý hoặc các điểm bưu điện văn hoá xã.

4. Đối tượng mua hàng

Khách hàng là người quyết định thành bại đối với doanh nghiệp, là mục tiêu giao thương của doanh nghiệp. Mục tiêu của công ty là đáp ứng nhu cầu của khách hàng mục tiêu. Do vậy doanh nghiệp cần hiểu rõ khách hàng.

Đối tượng mua hàng tạo nên thị trường của công tythường người ta có thể chia thành 5 loại thị trường như sau:

• Thị trường người dùng

• Thương trường đối tượng mua hàng doanh nghiệp

• Thương trường những nhà buôn trung gian

• Thương trường các cơ quan công ty Đảng, Nhà nước

• Thị trường quốc tế

Nhu cầu, mong muốnkhả năng thanh toán, mục tiêu  động cơ mua sắm của các thị trường này là không giống nhau. Do vậy, công ty cần nghiên cứu riêng một cách cẩn thận từng loại thương trường này. Vấn đề này sẽ được nghiên cứu kỹ tại phần phân đoạn thị trường ở chương sau.

5. Đối thủ cạnh tranh

Thành tố cạnh tranh tác động lớn đến hoạt động marketing của công tynhững nhà quản trị marketing luôn luôn để mắt đến hoạt động của các đối thủ cạnh tranh, đến các kế hoạch sản phẩm, cái giáphân phối , xúc tiến của những đối thủ.

a) Các loại cạnh tranh

Một doanh nghiệp thường gặp phải sự cạnh tranh từ 3 nguồn khác nhau như sau:

• Cạnh tranh giữa những thương hiệu không giống nhau của những sản phẩm cùng loại. Chẳng hạn, đó là sự cạnh tranh giữa dịch vụ điện thoại di động Mobifone , Vina-phone, giữa dịch vụ internet FPT , VDC, giữa dịch vụ VoIP 171  178, giữa dịch vụ hàng không của Vietnam Airline , Pacific Airline…

• Cạnh tranh giữa các sản phẩm thay thế. các loại sản phẩm khác nhau nhưng thực sự có thể mang lại ích lợi tương tự cho đối tượng mua hàng. Ví dụ: e-mail thay cho thư tín, E-card thay cho bưu ảnh, Fax thay cho điện báo, máy nghe đĩa compact thay cho cassetes, đi máy bay thay cho đi tàu hoả… Với giá vé thấp , chuyến bay thường xuyên, hãng hàng không Southeast Airline của Mỹ đã tuyên bố cạnh tranh ngay với cả ô tô liên tỉnh.

• Cạnh tranh giành túi tiền tài khách hàng. Bất kỳ công ty nào cũng bị cạnh tranh bởi các công ty khác đang nhằm vào giành thu thập túi tiền của đối tượng mua hàng, Trong khi túi tiền họ thì có hạn. Với ngân sách chi tiêu có hạn, đối tượng mua hàng lại có những nhu cầu không giống nhau. Tất nhiên, họ sẽ có nhiều chiến lược chi tiêu nhất định,  giành sự ưu tiên cho các nhu cầu thiết yếu hay cấp bách. Tuy nhiên, bằng những chiến lược marketing linh hoạtdoanh nghiệp có thể cạnh tranh để giành lấy sự ưu ái tiêu xài của khách hàng cho sản phẩm của mình.

b) Cấu trúc thị trường

Theo các nhà kinh tế học thì có 4 loại thị trườngđó là: thị trường cạnh tranh hoàn hảo; thị trường cạnh tranh độc quyền; thị trường độc quyền nhóm;  thị trường độc quyền. Tuỳ vào mỗi loại thị trường mà công ty có cách cư xử không giống nhau để cạnh tranh (xem Hình 3.3.). người coi có thể tìm hiểu chi tiết hơn vấn đề này trong các giáo trình kinh tế vi mô.

c) Đo đạt cạnh trạnh sử dụng Mô hình 5 nhân tố cạnh tranh Michael Porter

Để phân tích cạnh tranh, chúng ta thực sự có thể sử dụng mô hình thành tố cạnh tranh Michael Porter. Theo mô hình này, cóthành tố cạnh tranh đối với một tổ chức trong một ngành kinh tế nào đó:

Để phân tích cạnh tranh, chúng ta có thể dùng mô hình thành tố cạnh tranh Michael Porter. Theo mô hình này, có nhân tố cạnh tranh đối với một đơn vị trong một ngành kinh tế nào đó:

• Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng loại, tức là các doanh nghiệp trong cùng ngành, cung cấp cùng một loại sản phẩm dịch vụ.

• Cạnh tranh từ phía những nhà cung cấp.

• Cạnh tranh từ phía khách hàng.

• Cạnh tranh từ những sản phẩm thay thế

• Cạnh tranh từ những đối thủ mới sẽ tham gia vào ngành do xu thế hội nhập, mở cửa thị trường.

Việc phân tích các áp lực trong môi trường cạnh tranh theo mô hình Michael Porter sẽ giúp cho chúng ta nhận dạng được những đối thủ cạnh tranh hiện tại cũng như trong thời gian tới, đối thủ trực tiếp cũng giống như gián tiếp để có thể lựa chọn các chiến lược cạnh tranh, để đạt kết quả tốt đối với các áp lực cạnh tranh trên thị trường Bưu chính, Viễn thông.

6. Công chúng trực tiếp

Trong phần này, chúng ta sẽ trả lời các câu hỏi sau đây:

• Ai là công chúng trực tiếp của doanh nghiệp?

• Vai trò của họ đối với doanh nghiệp?

Công chúng trực tiếp là bất lỳ một groupmột đơn vị nào có mối quan tâmcó ảnh hưởng đến hoạt động của công ty. Công chúng trực tiếp sẽ ủng hộ hoặc chống lại các quyết định buôn bán của doanh nghiệp, tức là tạo thuận tiện hay gây gian khó cho công ty, doanh nghiệp cần phân loại công chúng , xây dựng các mối quan hệ phù hợp với từng loại.

Theo cách này thực sự có thể chia công chúng thành 3 loại:

Công chúng tích cực. đây là nhóm công chúng có thiện chí đối với doanh nghiệp.

Công chúng tìm kiếm. đây là nhóm công chúng mà công ty phải tìm cách thu hút, lôi kéo họ ủng hộ.

Công chúng giận giữ là nhóm người không có thiện chí với công tyluôn phải đề phòng bức xúc của họ.

Cụ thể hơn, ta có thể thấy có các nhóm công chúng sau đây (thuộc về một trong 3 loại trên):

• Các tổ chức tài chínhtổ chức tài chính, tín dụng, những cổ đông. Họ cam kết cho công ty nguồn vốn giao thương. Nhóm công chúng này quan tâm đến sự hoạt động buôn bán có hiệu quả của công ty. Công ty muốn đạt được sự thiện cảm của họ thì phải buôn bán phát đạt, tài chính lành mạnh , thông tin thường xuyên với họ về tình hình tài chính công ty.

Những cơ quan thông tin đại chúng như báo chí, truyền hình, truyền thanh. Họ đưa tin tuyên truyền cho doanh nghiệpgiúp cho doanh nghiệp chiếm được cảm tình của xã hội.

Các cơ quan chính quyền. Thông qua luật pháp, các cơ quan chính quyền thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệpdoanh nghiệp phải chấp hành nghiêm chỉnh luật pháp, chủ trương chính sách của Nhà nước.

Các đơn vị bảo vệ người dùng, bảo vệ môi trường ngày càng có tiếng nói trong dư luận xã hội. Các công ty phải tránh sự lên tiếng phản đối của các công ty này, vì như vậy sẽ gây tiếng xấu tại dư luận xã hội.

Cán bộ công nhân sự tại công ty. Đây là nhóm đối tượng mua hàng hàng bên tại doanh nghiệp. Họ là nguồn lực trọng yếu của công ty. Họ cần được để ýđộng viênnhận định đúng mức. Họ cũng cần được thông tin thường hay xuyên về tình hình hoạt động của doanh nghiệp, được tham gia vào quá trình xây dựng kế hoạch, quá trình quản lý…

Quần chúng đông đảo. Họ có thể trở thành đối tượng mua hàng của doanh nghiệp. Nếu dư luận của quần chúng đối với công ty là xấu thì chắc chắn công ty sẽ gặp khó trong buôn bán. Do vậy, doanh nghiệp phải theo dõi thường xuyên dư luận công chúng về công ty  sản phẩm của công ty. Công ty cũng cần phải tham gia vào những công việc tài trợ giúp đỡ địa phương để tạo ra hình ảnh tốt đẹp về Công ty trong con mắt công chúng.

các công ty phải để mắt đến công chúng trực tiếp, có bộ phận chuyên đảm nhận lĩnh vực quan hệ với công chúng (Public Relation).

Bài viếtLiên quan

Xem thêm bài viết

banner